Phát hiện sớm có ý nghĩa quan trọng trong việc điều trị cho trẻ tự kỷ
Tại Đơn vị Châm cứu, điều trị và chăm sóc đặc biệt cho trẻ tự kỷ và bại não, Bệnh viện Châm cứu Trung ương, chúng tôi gặp cháu Ngô Nguyễn Hoàng Minh, 6 tuổi ở huyện Thanh Trì, Hà Nội. Bố của Minh, ông Ngô Văn Tường cho biết, cháu Minh bị tự kỷ từ khi mới sinh ra. Lúc nhỏ chỉ nuôi ăn, nuôi ngủ còn đỡ vất vả. Nhưng khi lớn lên, bé thực sự là nỗi lo của cả gia đình bởi cháu rất hiếu động, nghịch ngợm nhưng lại không ý thức đâu là trò chơi nguy hiểm, nhiều lần tự gây chấn thương cho mình nhưng lần sau vẫn tái diễn. Ngay cả với người thân trong gia đình, bé cũng lười giao tiếp, chỉ hét đòi.
Trong phòng bệnh, cháu Lê Trung Hiếu, 10 tuổi ở Thái Thụy, Thái Bình cũng đang được điều trị. Chị Vũ Thị Thu, mẹ của cháu Hiếu cho biết, khi cháu được 6 tháng tuổi chị phát hiện cháu chỉ nghịch có tay trái, tay phải không nghịch, không thích chơi với bất kể ai nên gia đình đã đưa ra Bệnh viện Nhi Trung ương khám và được chẩn đoán tự kỷ. Sau khi qua nhiều bệnh viện, cuối cùng gia đình đưa cháu đến Bệnh viện Châm cứu Trung ương điều trị. Chỉ sau một đợt điều trị, đến nay tình hình của cháu đã khả quan hơn, khi gọi tên cháu đã biết quay lại, cháu cũng nhận biết được một số bộ phận cơ thể, ít chơi đi chơi lại chỉ một trò chơi.
Tự kỷ là chứng bệnh liên quan đến rối loạn phát triển tâm lý khiến người mắc bệnh có những biểu hiện bất thường trong quan hệ giao tiếp xã hội, sống thu mình và ngại tiếp xúc. Triệu chứng của bệnh thường bắt đầu trong ba năm đầu đời với nhiều dấu hiệu dễ nhận biệt trong phát triển ngôn ngữ, tương tác xã hội và các giác quan, hành vi. Y học hiện đại chưa có thuốc đặc hiệu cho bệnh tự kỷ, cho nên hiện nay việc phát hiện sớm có ý nghĩa quan trọng trong việc điều trị cho trẻ mắc chứng bệnh này. Vì phát hiện sớm sẽ giúp việc can thiệp, khắc phục những khiếm khuyết và trợ giúp trẻ ngay từ đầu bằng y học cổ truyền như điện châm, thủy châm, dưỡng sinh…
Tuy nhiên, theo bác sỹ Đỗ Thúy Lan, Giám đốc Trung tâm tư vấn phát hiện – can thiệp sớm khuyết tật trí tuệ Sao Mai, ở nước ta, do trình độ dân trí thấp, kiến thức về tự kỷ chưa được phổ biến rộng rãi và chưa có công trình nguyên cứu mang tính quốc gia nên các bậc cha mẹ, giáo viên và nhân viên y tế rất khó khăn trong việc phát hiện. Th.S Dương Văn Tâm, Bệnh viện Châm cứu Trung ương, sau 4 năm điều trị bằng châm cứu cho 76 trẻ tự kỷ đã nhận thấy, trẻ được bắt đầu châm cứu còn muộn (trung bình là 45,6 ±8,2 tháng tuổi) ; chỉ có 12% bệnh nhi được phát hiện các dấu hiệu của tự kỷ trước 2 tuổi; có tới 19,74% số trẻ được người ngoài gia đình phát hiện tự kỷ; chỉ có 47,37% số cháu được đưa đi khám ngay khi phát hiện có dấu hiệu tự kỷ…
Trẻ 6 tháng tuổi bị bại não đã có thể điều trị
Cùng chơi đùa với cháu Hoàng Bảo Linh, chị Ngọc Lan, mẹ cháu chia sẻ: “Con gái em bị bại não do khi sinh bị ngạt ối, được chẩn đoán bị teo não phải. Đến nay cháu được 13 tháng tuổi, gia đình đã cho cháu đi chạy chữa nhiều nơi nhưng không có hiệu quả, nên gia đình quyết định đến Bệnh viện Châm cứu Trung ương để điều trị theo phương pháp châm cứu, bấm huyệt. Đây là đợt điều trị thứ 2, nhưng cháu đã tiến bộ. Nếu trước đây cháu nhận biết rất kém thì nay ánh mắt cháu đã nhanh nhẹn, cảm nhận được mẹ, tự bám vào mẹ…”. Cô y tá đang trực tiếp điều trị cho Bảo Linh cho biết, Bảo Linh vào điều trị tại đây được xoa bóp, day huyệt giúp tuần hoán máu kết hợp với phương pháp thủy châm, điện châm.
Hiện nay, trên thế giới tỷ lệ trẻ bại não là 1,8-2,5/100 trẻ sinh sống, ở Việt Nam trung bình mỗi năm có khoảng 200.000 trẻ em bị bại não. Tại Khoa Nhi, Bệnh viện Châm cứu Trung ương, năm 2010 có 69% trẻ bại não điều trị phục hồi chức năng/tổng số bệnh nhân; năm 2011 tỷ lệ này là 74,61% trẻ.
Bại não là nhóm những rối loạn của hệ thần kinh trung ương gây ra do nhiều nguyên nhân ảnh hưởng vào giai đoạn trước, trong và sau khi sinh cho đến trước 5 tuổi với hậu quả bao gồm những bất thường về vận động, giác quan, tâm trí, hành vi… TS. Nguyễn Thị Tú Anh, Trưởng Khoa Nhi, Bệnh viện Châm cứu Trung ương cho biết, có 15% trẻ bị bại não do nguyên nhân trước sinh, 40-60% trẻ bị do nguyên nhân trong khi sinh và tỷ lệ này ở thời kỳ sau sinh là 30-45%… Vì vậy, TS. Nguyễn Thị Tú Anh khuyến cáo, để có thể giúp trẻ bị bại não phục hồi được tốt nhất và hòa nhập với cuộc sống, gia đình nên phát hiện và đưa trẻ tới khám càng sớm càng tốt, tùy thuộc vào cân nặng, trẻ 6 tháng tuổi bị bại não đã có thể điều trị ở Khoa Nhi, Bệnh viện Châm cứu Trung ương.
Kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại trong điều trị trẻ tự kỷ và bại não
Ở Việt Nam, theo số liệu của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Việt Nam có khoảng 5 đến 7% trẻ tàn tật ở độ tuổi dưới 15, trong đó trẻ tự kỷ và bại não chiếm khoảng trên 40%. Thống kê của Bệnh viện Châm cứu Trung ương, hằng năm có trên 3.000 lượt trẻ tự kỷ và bại não đến điều trị tại Khoa Nhi của Bệnh viện.
Để điều trị cho những trẻ mắc chứng bệnh này, Bệnh viện Châm cứu Trung ương đã thành lập Đơn vị Châm cứu, điều trị và chăm sóc đặc biệt cho trẻ tự kỷ và bại não. Bác sỹ Nguyễn Quốc Văn, Trưởng Đơn vị cho biết, Đơn vị sẽ tiến hành các phương pháp kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại trong điều trị với 2 mục tiêu: xây dựng mô hình chuẩn kết hợp châm cứu – y học cổ truyền với y học hiện đại, kết hợp giữa y học và giáo dục; nhân rộng và chuyển giao mô hình hoạt động của Đơn vị cho các bệnh viện châm cứu vệ tinh, bệnh viện y học cổ truyền cả nước. Theo PGS. TS. Nghiêm Hữu Thành, Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương, kết hợp châm cứu – y học cổ truyền với y học hiện đại là bao gồm các phương pháp điều trị theo y học cổ truyền như: đại trường châm, thủy châm, cấy chỉ, xoa bóp bấm huyệt, tắm dược thảo… và phương pháp điều trị theo y học hiện đại như: chiếu đèn hồng ngoại, chiếu đèn tử ngoại, giáo dục kỹ năng sống… “Với phương pháp không dùng thuốc và có dùng thuốc của y học cổ truyền, thủy châm vào huyệt, đây là mô hình kết hợp đông tây y. Hiệu quả trong việc điều trị cho các trẻ bị tự kỷ, bại não là các cháu được cải thiện tốt, đặc biệt những cháu đến bệnh viện sớm trong vòng 1 đến 2 tuổi” – PGS.TS Nghiêm Hữu Thành chia sẻ thêm.
Trên thực tế, mô hình này đã được triển khai từ một vài năm trước và đã mang lại kết quả khả quan. Trên cơ sở đó, Bệnh viện mở rộng điều trị cho bệnh nhi. Năm 2009, Bệnh viện đã điều trị cho 1.300 trẻ bị tự kỷ bại não thì có 237 cháu khỏi hoàn toàn (chiếm khoảng 18%). Đến năm 2011, tỷ lệ chữa khỏi hoàn toàn được nâng lên 21%.
Việc kết hợp châm cứu với y học hiện đại và giáo dục trong điều trị cho trẻ tự kỷ và bại não mở ra niềm hy vọng mới đối với những gia đình có trẻ không may mắc bệnh. Thời gian tới, mô hình này sẽ được nhân rộng ra các bệnh viện y học cổ truyền trong cả nước, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, đặc biệt là cho gia đình và bản thân trẻ tự kỷ, bại não, làm giảm gánh nặng về bệnh tật cho gia đình và xã hội.
Mô hình điều trị trẻ tự kỷ và bại não tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương
Bài: Trà Giang