Trang chủ » Tin tức » Y tế » Điểm báo ngày 18/6/2012

Điểm báo ngày 18/6/2012

Thêm nhiều bệnh nhân mắc liên cầu lợn
Ngày 17.6, thông tin từ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới T.Ư cho biết, trong một tháng trở lại đây, bệnh viện đã tiếp nhận 6 bệnh nhân mắc bệnh liên cầu lợn.
Trong đó, nhiều bệnh nhân diễn biến bệnh nặng, sốc, truỵ mạch, suy đa phủ tạng phải cắt bỏ các chi trên cơ thể… thậm chí có trường hợp còn tử vong ngay trên đường đến bệnh viện.
Gần đây nhất, ngày 15.6, bệnh nhân N.T.N (nam), quê Hải Phòng, được chuyển từ Bệnh viện Đa khoa Hải Phòng đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới T.Ư trong tình trạng sốc, sốt, cơ thể bầm tím. Điều tra cho thấy bệnh nhân đã từng ăn thịt lợn, đặc biệt từng tiếp xúc trực tiếp với lợn.
Trong quá trình nuôi lợn, anh N đã bị lợn tấn công gây thương tích và chảy máu. Sau đó 2 ngày thì bệnh nhân có biểu hiện sốt, sốc, khó thở, cơ thể xuất hiện vết ban hoại tử. Theo bác sĩ Nguyễn Trung Cấp – Phó khoa Cấp cứu và điều trị tích cực, sau 5 ngày điều trị tích cực, tới nay bệnh nhân N đã qua cơn nguy kịch, hiện không phải lọc máu và các vết hoại tử cũng không lan rộng, không phải cắt bỏ các chi trên cơ thể.
Trước đó, vào ngày 12.6, bệnh viện cũng đã tiếp nhận 1 bệnh nhân đến từ Bắc Ninh trong tình trạng nguy kịnh, suy đa phủ tạng, xuất hiện nhiều vết hoại tử trên bàn tay, bàn chân. Sau một tuần điều trị, bệnh nhân đã hồi phục sức khỏe nhưng vẫn phải cắt bỏ hai chân. Hiện bệnh nhân này đã được xuất viện, theo dõi điều trị tại nhà.
Thống kê của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới T.Ư cho thấy, thực tế các ca bệnh nhiễm liên cầu lợn là không nhiều. Từ đầu năm tới nay có khoảng 20 trường hợp, nhưng 80% số bệnh nhân nhập viện đều trong tình trạng bệnh nặng hoặc đã bị biến chứng. Trong số đó có nhiều ca viêm màng não nặng, sốc, hoại tử, suy đa phủ tạng, có trường hợp đã tử vong. Căn nguyên của căn bệnh là do tập tục chăn nuôi nhỏ lẻ còn phổ biến ở nhiều vùng quê, gây khó khăn cho việc khoanh vùng, cách ly những con lợn bị bệnh của lực lượng thú y tại địa phương.
Bác sĩ Cấp khuyến cáo: Để phòng bệnh, người dân cần chủ động, chú ý không lựa chọn thịt lợn ốm, thịt không có nguồn gốc; khi sử dụng cần phải đun chín. Nếu thấy có những biểu hiện như sốt cao, đau đầu, hay nổi ban hoại tử trên người… thì cần tới ngay các cơ sở y tế để khám. (Nông thôn Ngày nay 18/6 (trang 4))
Quảng Ngãi: Bệnh lạ không phải do chất độc hóa học
Sau gần một tháng lấy mẫu đất, mẫu nước xét nghiệm, Viện Hóa học, môi trường quân sự (Bộ Quốc phòng) vừa công bố kết quả khảo sát ở khu vực có nhiều người mắc bệnh.
Sau gần một tháng lấy mẫu đất, mẫu nước xét nghiệm truy tìm nguyên nhân bệnh viêm da sừng lòng bàn tay bàn chân ở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, Viện Hóa học, môi trường quân sự (Bộ Quốc phòng) vừa công bố kết quả khảo sát ở khu vực có nhiều người mắc bệnh.
Đại tá Đinh Ngọc Tấn – Viện trưởng Viện Hóa học, môi trường quân sự cho biết, kết quả xét nghiệm cho thấy chỉ số vi sinh vật trong mẫu nước là cao, chứng tỏ nguồn nước suối cạnh làng Rêu, xã Ba Điền bị ô nhiễm, còn các chất khác không vượt quá giới hạn cho phép.
Đặc biệt là chất dioxin mà thời gian qua nhiều chuyên gia đặt giả thiết là nguyên nhân gây bệnh cũng không phát hiện được trong mẫu đất và mẫu nước ở khu vực này. Đại tá Đinh Ngọc Tấn khẳng định, không phát hiện thấy chất độc quân sự tồn lưu sau chiến tranh, trong đó không phát hiện chất dioxin.(Nông thôn Ngày nay 18/6 (trang 4))
Ghép tế bào gốc tạo máu cứu sống bệnh nhân
Trước thực trạng các bệnh lý về máu ngày càng tăng, từ năm 2006, GS-TS, Thấy thuốc Nhân dân Nguyễn Anh Trí – Viện trưởng Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương – cùng các đồng nghiệp đã tập trung phát triển kỹ thuật ghép tế bào gốc tạo máu cho bệnh nhân ngay tại viện, giúp họ kéo dài sự sống.
Ghép tế bào gốc (TBG) tạo máu là phương pháp điều trị bệnh được ứng dụng nhiều trong ngành huyết học và ung thư học. Phương pháp này thực hiện quá trình cấy ghép TBG tạo máu lấy từ tủy xương hoặc từ máu ghép vào cơ thể người bệnh để chữa các bệnh lý huyết học, bệnh lý miễn dịch, di truyền và một số bệnh lý ung thư khác.
Kỹ thuật ghép TBG khá phức tạp, đòi hỏi độ chính xác cao, chuyên môn giỏi và đem lại hiệu quả vượt trội. Chẳng hạn, bệnh nhân được ghép không bị suy tuỷ; giảm bớt đau đớn so với điều trị thông thường; giảm nguy cơ tử vong do các biến chứng nhiễm trùng, xuất huyết và mang lại cuộc sống bình thường cho người bệnh từ 5 năm trở lên.
Theo GS Trí, đến nay, đã có hơn 40 trường hợp được ghép TBG thành công, giúp người bệnh trở về cuộc sống thường nhật. Đây được coi là bước ngoặt lớn đối với ngành y tế, chữa các chứng bệnh máu “chờ chết” mà không phải trị xạ hóa chất liều cao.

Từ ý tưởng xây dựng một ngân hàng lưu trữ TBG để bệnh nhân có nhiều cơ hội chữa trị, ngày 3.5 vừa qua, Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương (HHTMTƯ) chính thức cho ra mắt Trung tâm TBG, phục vụ cho công tác ghép điều trị các bệnh lý về máu.
Theo GS Trí, trung tâm này sẽ tiếp nhận những ai có nhu cầu lưu giữ TBG, nhằm mục đích điều trị cho chính mình và người thân trong gia đình, trong khi đó, nếu phải nhập khẩu nguồn TBG sẽ rất tốn kém, bệnh nhân nghèo khó có thể đủ tiền chữa bệnh.
“Chi phí ghép một ca TBG từ 130 – 300 triệu đồng, người bệnh được BHYT phối hợp chi trả, nên bệnh nhân nghèo có thể an tâm điều trị. Trong khi đó, một ca ghép TBG ở nước ngoài chi phí đắt đỏ lên tới 75.000 – 100.000USD, đó là chưa kể chi phí ăn ở, đi lại của bệnh nhân và người nhà…” – ông Trí nói.
Ông Trí cũng cho hay, Viện HHTM TƯ cũng đã đề nghị Bộ Y tế xây dựng chương trình TBG quốc gia. Khi đã có nguồn vốn TBG thì có thể kết nối với Ngân hàng TBG toàn cầu cứu chữa người bệnh nhanh chóng hơn.
Bên cạnh việc ứng dụng kỹ thuật cao cứu chữa người bệnh, GS-TS Nguyễn Anh Trí còn là người phát động lễ hội Xuân hồng vào đầu xuân năm mới, bắt đầu từ năm 2008. Chính lễ hội Xuân hồng đã tạo nên làn sóng của lòng nhân ái với thông điệp “Máu cứu người, xin đừng thờ ơ”, tạo nên cú hích cho phong trào hiến máu nhân đạo trên cả nước.
Đầu tháng 2 vừa qua, GS-TS Nguyễn Anh Trí vinh dự là một trong 72 thầy thuốc, bác sĩ được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Thầy thuốc Nhân dân. Đồng thời, ông cũng đóng góp công trình khoa học ghép TBG tạo máu được đánh giá là thành tựu y học nổi bật của nền y khoa nước nhà. (Lao động 18/6 (trang 3))
Chỉ 25% người cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế
Bảo hiểm xã hội VN cho hay đến hết tháng 5-2012 mới có 25% trong số 14 triệu người cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế.
Điều đáng chú ý là tính từ ngày 1-1-2012, người cận nghèo đã được hỗ trợ 70% phí tham gia bảo hiểm y tế, một số địa phương ở Tây Bắc, Tây nguyên, ĐBSCL… có hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và ngân sách địa phương còn được hỗ trợ tới 90% phí tham gia, nhưng tỉ lệ người cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế vẫn rất thấp.
Lý do của tình trạng trên là thông tin chính sách này vẫn chưa đến được với người cận nghèo, khiến họ không biết mình được hỗ trợ những gì, địa điểm nơi mua thẻ và danh sách người cận nghèo… (Tuổi trẻ 18/6 (trang2))
Vùng bệnh "lạ" không nhiễm dioxin
Chiều 17-6, ông Lê Hàn Phong – chủ tịch UBND huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi – cho biết sau một tháng khảo sát nguồn nước và đất ở vùng bệnh "lạ" xã Ba Điền, huyện Ba Tơ, Viện Môi trường hóa học (Bộ tư lệnh hóa học) vừa cho biết kết quả khảo sát tại đây.
Viện này cho biết các chất dioxin và chất hóa học quân sự có từ thời chiến tranh không có trong mẫu nước và đất ở đây. Tuy nhiên, các vi sinh vật có trong nguồn nước và bùn đã ô nhiễm vượt 1,3-3 lần cho phép.
Kết quả của Viện Môi trường hóa học trùng với kết quả mà Bộ Khoa học – công nghệ đã thực hiện tại xã Ba Điền ngày 14-6. Đó là nguồn nước sinh hoạt của người dân ở làng Rêu, thôn Gò Nghênh và thôn Hi Long của xã Ba Điền lấy từ suối bắt nguồn từ núi Gò Khế bị ô nhiễm nặng.
Viện Môi trường hóa học khuyến cáo người dân nên đun sôi nước trước khi uống. (Cùng chủ để: “Gia đình & Xã hội: Bệnh lạ ở Ba Tơ, Quảng Ngãi: không phải do chất độc quân sự”). (Tuổi trẻ 18/6 (trang 3))
56% bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước thải
Dự án hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện – Bộ Y tế đã tổ chức hội thảo “Giới thiệu công nghệ xử lý chất thải y tế” vào ngày 17-6 tại Hà Nội.
Theo TTXVN, thông tin tại hội thảo cho biết Việt Nam hiện có 1.263 bệnh viện và hơn 1.000 cơ sở viện, trung tâm y tế dự phòng các tuyến, các cơ sở sản xuất kinh doanh dược, hệ thống y tế xã, phường.
Tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế khoảng 350 tấn/ngày (ước tính đến năm 2015 là 600 tấn/ngày); trong đó 10% – 20% (trung bình 40,5 tấn/ngày hiện nay) là chất thải rắn y tế nguy hại phải được xử lý bằng các biện pháp phù hợp. Bên cạnh đó, mỗi ngày, các cơ sở y tế thải ra hơn 150.000 m3 nước thải.
Tuy nhiên, hiện có đến 56% số bệnh viện trên toàn quốc chưa có hệ thống xử lý nước thải và 70% số hệ thống xử lý nước thải hiện có không đạt tiêu chuẩn cho phép; chỉ có khoảng 50% số bệnh viện phân loại, thu gom chất thải rắn y tế đạt yêu cầu. Trong khi đó, hệ thống chính sách, quy chuẩn, tiêu chuẩn công nghệ xử lý chất thải phù hợp chưa được xây dựng đầy đủ và triển khai có hệ thống. (Người Lao động, Hà Nội mới 18/6 (trang 1))
Mô hình “Ngân hàng máu sống” tại bệnh viện
miền núi cứu sống nhiều sản phụ:
Giọt máu nghĩa tình

GiadinhNet – Đã 3 tháng trôi qua nhưng sản phụ Lữ Thị Thu và gia đình vẫn không quên được đêm “định mệnh” khi chị Thu chuyển dạ sinh con đầu lòng.
Đêm ấy, sản phụ có thể đã ra đi vì bị  mất máu ồ ạt. Nhưng thật may mắn, chị đã được cứu sống nhờ ngân hàng máu sống do chính những cán bộ, đoàn viên Bệnh viện Đa khoa khu vực Tây Bắc tỉnh Nghệ An (ĐKKV) thành lập.
Kỷ niệm không thể quên
Trưa hè giữa tháng 6, đất Nghệ nóng như chảo lửa. Chúng tôi đến thăm gia đình chị Thu (22 tuổi, xóm Khe Sài 2, xã Nghĩa Lộc, Nghĩa Đàn, Nghệ An), cách Bệnh viện ĐKKV Tây Bắc chừng hơn 20km.
Theo lời kể của bà Lữ Thị Toan – mẹ chồng chị Thu, thì khoảng 7 giờ tối ngày 15/3, chị Thu chuyển dạ, chị được đưa vào trạm y tế xã Nghĩa Lộc. Đến 11 giờ, chị bị vỡ ối, gia đình chuyển chị lên bệnh viện. Chỉ sau gần 10 phút lên bàn đẻ, các bác sĩ đã thông báo với gia đình cuộc chuyển dạ “mẹ tròn con vuông”.
“Thế nhưng, 5 phút sau khi bé Vũ Thị Anh cất tiếng khóc chào đời, chị Thu lại xuất hiện một khối u phồng to bằng bát con. Các bác sĩ đã hội chẩn và khẳng định chị bị vỡ tĩnh mạch bên thành âm đạo, phải tháo khối máu tụ. Lúc đó, máu chảy ồ ạt, nếu không cấp cứu kịp thời, tính mạng sẽ bị đe dọa”, BS Lương Thị Thanh Vận (bác sĩ khoa Sản Bệnh viện ĐKKV Tây Bắc) kể.
Bà Lữ Thị Toan nhớ lại: “Niềm vui có cháu nội chưa được vẹn tròn thì chúng tôi lại được các bác sĩ chạy ra hỏi: Gia đình ta có đông anh em không? Cả nội và ngoại có ai có nhóm máu trùng với nhóm máu sản phụ không? Biết sự chẳng lành, gia đình chúng tôi hối hả huy động cả hai bên họ hàng. Nhưng lúc đó, 1-2 giờ sáng, họ hàng ở xa, nhiều người cũng không biết nhóm máu của mình là gì. Cuối cùng cũng phát hiện ra bà ngoại và dì bé Anh cùng nhóm máu. Nhưng mẹ đẻ chị Thu lại bị viêm gan B nên không thể truyền máu, chỉ còn mỗi dì cháu lấy được 1 đơn vị máu. Gia đình chúng tôi lúc đó rối bời, hoảng loạn, chỉ biết gào khóc và lo sợ bé Anh mồ côi mẹ. Thế mới thấm giọt máu quý như thế nào!”.
Nhớ lại kỷ niệm khó quên này, y tá Nguyễn Thị Thương, khoa Gây mê (Bệnh viện ĐKKV) – một trong 3 đoàn viên nhóm hiến máu cho chị Thu chia sẻ: Lúc đó khoảng 1-2 giờ sáng, em đang ngủ thì thấy điện thoại của cán bộ bệnh viện gọi đến để lên cơ quan hiến máu cứu bệnh nhân. Lúc đó em chẳng ngại gì dù là nửa đêm, trời rét, chỉ mong mình góp sức cứu sống sản phụ. Sau một giờ, với lượng máu lấy được từ các đoàn viên, sản phụ Thu đã được cứu sống.
Trường hợp của chị Thu không phải là trường hợp duy nhất được cứu sống nhờ nghĩa cử cao đẹp của đội ngũ đoàn viên, y – bác sĩ tại Bệnh viện ĐKKV Tây Bắc tỉnh Nghệ An. Ngoài việc cấp cứu các sản phụ, ngân hàng máu sống tại bệnh viện cũng đã cứu giúp rất nhiều bệnh nhân.
Mới đây nhất, ngày 14/6, sản phụ Trần Thị Thu Hiền (25 tuổi, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An), nhập viện trong tình trạng lượng hồng cầu giảm còn 1,5 triệu – dấu hiệu của việc mất máu rất nặng do chảy máu sau sinh mổ. Sản phụ cần truyền 4 đơn vị máu nhóm A-B, là một trong những nhóm máu hiếm và khó. Bệnh viện đã huy động hai đoàn viên trong bệnh viện và hai đoàn viên trong thị xã đến hiến máu, chỉ sau một giờ đồng hồ, sản phụ đã ổn định trở lại.
Cái khó… ló cái khôn
Bệnh viện ĐKKV Tây Bắc tỉnh Nghệ An chịu trách nhiệm khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn 6 huyện, thị miền núi là thị xã Thái Hòa, huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Tân Kỳ. Đây đều là những huyện miền núi cao, đặc biệt khó khăn.
Tại khoa Sản và khoa Nhi bệnh viện, trong những năm gần đây, công suất giường bệnh luôn là 130-140%, có lúc lên đến 150%. 5 tháng đầu năm 2012, số lượt sản phụ sinh tại bệnh viện là 1.291 ca. Trong khi đó, theo BS. Dương Văn Trường, Trưởng khoa Sản: “Tại phòng đẻ khoa Sản, chỉ có hai chiếc bàn đẻ, hai bàn khám phụ khoa, được cấp từ cách đây rất lâu, trong đó cũng chỉ có một bàn đẻ đủ tiêu chuẩn. Ngoài ra, cũng chỉ có một máy monitor theo dõi tim thai và cơn co tử cung trong chuyển dạ mới được đầu tư bởi nguồn xã hội hóa do hai máy cũ bị hỏng”.
Cơ sở vật chất thiếu thốn, bác sĩ phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, áp lực khám chữa bệnh là vô cùng lớn. BS. Lương Thị Thanh Vận chia sẻ: “Trung bình một ngày chúng tôi đỡ đẻ đến 10 ca. Nếu tính cả số thai phụ vào viện với các bệnh khác như viêm phần phụ, chửa ngoài dạ con… thì một ngày phải đến 15-16 ca.
Khó khăn là thế nhưng “cái khó ló cái khôn”. Cách đây 2 năm, đội ngũ y, bác sĩ nơi miền quê núi cao nghèo khó này đã thành lập “ngân hàng máu sống” để cứu giúp bệnh nhân. BS. Tăng Việt Hà, Giám đốc Bệnh viện cho hay: Chúng tôi thành lập “ngân hàng máu sống” với sự tham gia của 108 cán bộ nhân viên bệnh viện. Tất cả đều được xét nghiệm, xác định nhóm máu sẵn và mỗi khi cần thì anh chị em đều sẵn sàng chìa cánh tay ra hiến máu cứu người. Điều đó khiến việc cấp cứu bệnh nhân được chủ động vì từ thị xã Thái Hòa đến trung tâm tỉnh Nghệ An là hơn 100km, đường sá xa xôi, đi lại khó khăn, việc chuyển tuyến trên rất nguy hiểm cho tính mạng bệnh nhân.
Cũng vì cái khó đó, từ rất nhiều năm nay, các khoa sản tuyến huyện của Nghệ An đã có thể thực hiện các kỹ thuật sản khoa như sơ cứu ban đầu và mổ cấp cứu (mổ đẻ, mổ chửa ngoài dạ con, mổ cắt u nang buồng trứng xoắn). Điều này không phải bệnh viện tuyến huyện ở tỉnh nào cũng có thể làm được.
Nói thêm về vấn đề đáp ứng các dịch vụ chăm sóc SKSS cho người dân tỉnh Nghệ An, BS. Nguyễn Bá Tân, Giám đốc Trung tâm chăm sóc SKSS tỉnh cho biết: Toàn tỉnh có 20 bệnh viện tuyến huyện nhưng chỉ có 8 bệnh viện có khả năng thành lập khoa phụ sản, còn lại các bác sĩ đa khoa phải làm việc chung, mổ cấp cứu và đỡ đẻ cho khoa sản. Ngay tuyến tỉnh cũng vậy, rất khó khăn. Nghệ An là một tỉnh có địa bàn rộng, dân số đông (hơn 3 triệu dân), số người trong độ tuổi sinh đẻ rất đông (hơn 800.000 người), mỗi năm có hơn 45.000 ca đẻ. Tại khoa Sản bệnh viện tỉnh, chỉ có 25 bác sĩ và 80 giường bệnh. Trung tâm Chăm sóc SKSS có 30 giường bệnh và 20 bác sĩ. Cơ sở vật chất và nhân lực như thế là quá ít so với nhu cầu thực tế. Ngày 14/6/2012, BV Sản Nhi Nghệ An được thành lập nhưng vẫn không thể đáp ứng nổi. (Gia đình & Xã hội 18/6 (trang 6))

Gửi thảo luận