Trang chủ » Tin tức » Y tế » Điểm báo ngày 16/6/2012

Điểm báo ngày 16/6/2012

Đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức của người dân về chăm sóc thai nghén

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân vừa có ý kiến chỉ đạo về công tác phòng ngừa tai biến sản khoa gây tử vong mẹ và tử vong trẻ sơ sinh. Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Y tế rà soát, chấn chỉnh hệ thống tổ chức mạng lưới chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, đặc biệt chú trọng công tác chỉ đạo tuyến và chuyển giao kỹ thuật thực hành cấp cứu sản khoa, cấp cứu trẻ sơ sinh. Bên cạnh đó, tăng cường các biện pháp chuyên môn để phát hiện sớm các nguy cơ gây tai biến sản khoa, xử lý đúng kỹ thuật để cứu sống bà mẹ và trẻ sơ sinh.

Phó Thủ tướng cũng giao Bộ Y tế đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao nhận thức của người dân, giúp thay đổi hành vi về chăm sóc thai nghén, khám thai theo định kỳ và chỉ đến sinh con ở các cơ sở y tế đủ điều kiện hành nghề y theo quy định (Sức khỏe & Đời sống (trang 2) 16/6).

Kết luận những sai phạm tại CT CP Sữa tươi Ba Vì

Ngày 14/6, Công an TP. Hà Nội vừa có kết luận về những vi phạm của Công ty CP Sữa tươi Ba Vì trong việc sản xuất một số sản phẩm sữa không đạt tiêu chuẩn, vi phạm quy chế nhãn mác. Theo đó, kết quả kiểm tra xác định, 3 mẫu sản phẩm của công ty trên không đạt chỉ tiêu hàm lượng và chất lượng. Cụ thể, các mẫu gồm: sữa dê tươi thanh trùng 100% sữa sạch không đường, sữa bò tươi thanh trùng 100% sữa sạch không đường có hàm lượng protein, hàm lượng lipid không đảm bảo tiêu chuẩn. Riêng mẫu bánh sữa Ba Vì có hàm lượng protid không đạt. Ngoài ra, Công ty CP Sữa tươi Ba Vì còn phạm lỗi sử dụng nhãn mác Ba Vì khi không được UBND huyện Ba Vì cấp phép. Qua những vi phạm trên, lực lượng liên ngành sẽ tiến hành tiêu hủy toàn bộ số sản phẩm sữa trên. Trước đó, lực lượng chức năng đã kiểm tra và phát hiện 2 mẫu sản phẩm: sữa bò tươi thanh trùng 100% sữa sạch và sữa dê tươi thanh trùng 100% sữa sạch không đạt các chỉ tiêu về ATVSTP. Ngoài ra, tại thời điểm kiểm tra, đoàn đã phát hiện 3 sản phẩm của công ty này không có hồ sơ công bố và giấy chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm (Sức khỏe & Đời sống (trang 2) 16/6). 

Hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân ở Quảng Ngãi: Gạo mới đến nhà, bệnh giảm!

Theo chỉ đạo của Bộ Y tế, trong 2 ngày 13 -14/6, đoàn công tác gồm các chuyên gia đầu ngành thuộc 11 chuyên khoa của Bệnh viện (BV) Bạch Mai đã tới Quảng Ngãi khảo sát về bệnh hội chứng viêm da dày da sừng bàn tay, bàn chân. Gần 300 bệnh nhân đang điều trị ở cả BVĐK tỉnh Quảng Ngãi, Trung tâm y tế huyện Ba Tơ và những người từng ít nhất 1 lần nhập viện vì căn bệnh quái ác ở làng Rêu đã được các bác sĩ thăm khám toàn diện, cấp thuốc.

Đến nay, đã có gần 300 người được khám, chẩn đoán và điều trị bệnh viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân ở Quảng Ngãi, trong đó có 12 người tử vong, 45 trường hợp tái phát có nhập viện lại. Những bệnh nhân tái phát đều được BV Bạch Mai khám, lập phiếu khảo sát nhằm tìm ra nguyên nhân và phác đồ điều trị hiệu quả nhất cho căn bệnh này.

Rất nhiều người khi khám lại đều cho biết họ có biểu hiện chán ăn, ăn rất ít và thể lực của họ đều suy dinh dưỡng, gầy còm. Như bà Phạm Thị Kê (65 tuổi, ở làng Rêu) đã nhập viện 4 lần, trong đó 3 lần ở BV tỉnh Quảng Ngãi, 1 lần ở BV Phong Quy Hòa, hiện bà chỉ có 33kg. Gia đình bà có 5 người bị bệnh.

Được biết, người dân H’Re ở xã Ba Điền thường ăn loại gạo ủ và xét nghiệm thấy trong đó có một số loại nấm mốc, chính quyền địa phương đã cấp cho người dân ở đây gạo mới. Theo ông Phạm Văn Bút – Chủ tịch xã cho biết: Hiện tại, trong làng Rêu đã có khoảng 40% người dân được ăn gạo mới.

Gia đình anh Phạm Văn Trói vốn có 6 người mắc bệnh: Vợ chồng anh và đứa con gái lớn, chị gái anh là Phạm Thị Thanh… Vợ anh Trói là chị Phạm Thị Rên nhập viện 2 lần, lần đầu tiên ở Trung tâm y tế huyện Ba Tơ sau 1 tháng điều trị khỏi, nhưng về nhà, chị và gia đình vẫn tiếp tục ăn gạo cũ. Chẳng bao lâu sau, bệnh của chị Rên tái phát, xét nghiệm men gan tăng và chị đã tử vong cách đây 2 tuần. Được cấp gạo mới, từ đó gia đình anh nấu cơm bằng gạo được cấp, cả anh Trói và chị Thanh mỗi bữa đều ăn được 3 bát cơm và không còn chán ăn như trước. Gia đình anh Phạm Văn Gương và chị Phạm Thị Lấy cũng vậy. Từ 2 tháng nay, ăn gạo mới và anh đã khỏe hẳn lên, không còn chán ăn.

Phân tích diễn biến bệnh của 2 gia đình này, TS. Phạm Duệ cho biết: “Những người được coi là tái phát bệnh có thể ở 2 hình thức. Người đã điều trị ở viện đỡ, men gan giảm nên được về nhà. Thế nhưng khi về nhà họ lại xuất hiện triệu chứng chán ăn, mệt mỏi. Hoặc có người đang điều trị bỏ dở và sau đó quay lại BV. Vậy thì câu hỏi là tại sao những người đã điều trị khỏi, khi về nhà, trở lại sinh hoạt trong điều kiện cũ, bệnh trở lại? Kết quả xét nghiệm các mẫu đất, nước, không khí ngoại cảnh không có gì bất thường. Biểu hiện sức khỏe của những người đang ăn gạo mới, trong bữa cơm có thịt, chất lượng bữa ăn giàu dinh dưỡng hơn thì sức khỏe có cải thiện. Trên cơ sở so sánh họ với những người còn ăn gạo cũ còn biểu hiện chán ăn, mệt mỏi thì có thể đưa ra giả thiết dinh dưỡng tốt là có hiệu quả cải thiện bệnh”.

Thầy thuốc làm dân vận

Tại BVĐK tỉnh Quảng Ngãi hiện có 11 trường hợp đang điều trị. BS. Phạm Ngọc Lân  – PGĐ BV cho biết: Tỉ lệ bệnh tái phát ở các bệnh nhân điều trị tại BV là 40%. Tuy nhiên, công tác điều trị cũng gặp nhiều khó khăn khi bản thân người bệnh thường nói “nhớ nhà, muốn về thăm đồng thăm rẫy”. Nhiều bệnh nhân điều trị được khoảng 10 ngày đã muốn bỏ viện. Để động viên người bệnh yên tâm điều trị, BVĐK Quảng Ngãi đã cung cấp bữa ăn cho người thăm nuôi tại BV. Tuy nhiên, vẫn có tới 34 trường hợp trốn viện hoặc điều trị chưa ổn định nhưng không chịu điều trị tiếp tục xin về, trong đó có 2 người rất nặng đều có biểu hiện xơ gan mất bù. Trong khi đó, BV chưa có điều kiện nghiên cứu tập tục, thói quen sinh hoạt của người bệnh đều là người dân tộc H’Re.

Với sự vào cuộc tổng lực của các bệnh viện đầu ngành, sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo ngành y tế, người dân huyện Ba Tơ và chính quyền địa phương hy vọng trong thời gian tới người dân H’Re ở đây sẽ thoát  khỏi nỗi ám ảnh về hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân cùng nhiều biểu hiện gầy mòn, suy nhược cơ thể, đe dọa tầm vóc và sức khỏe của một thế hệ tương lai (Sức khỏe & Đời sống (trang 7) 16/6).      

Chỉ hơn 53% bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải y tế

Đó là thông tin được TS. Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Môi trường Y tế, Bộ Y tế đưa ra tại Hội thảo về giải pháp quản lý chất thải bệnh viện-bảo vệ môi trường và sức khỏe vừa diễn ra.

Theo TS. Nga, trên địa bàn cả nước hiện có 13.640 cơ sở y tế các loại, với nguồn chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh khoảng 42 tấn/ngày. Dự kiến đến năm 2015 sẽ có trên 70 tấn chất thải rắn nguy hại phát sinh/ngày, năm 2020 là trên 93 tấn/ngày. Tuy nhiên, thực tế việc xử lý chất thải rắn nói chung tại các cơ sở khám, chữa bệnh vẫn còn nhiều điều phải bàn. Có đến 67,8% bệnh viện xử lý chất thải rắn bằng công nghệ đốt không thân thiện với môi trường hoặc thuê xử lý; 32,2% bệnh viện xử lý bằng lò đốt một buồng, lò đốt thủ công hoặc chôn lấp trong khuôn viên bệnh viện…

Tại các trung tâm thuộc hệ y tế dự phòng và trạm y tế xã thì tỉ lệ cơ sở xử lý chất thải rắn y tế với công nghệ thân thiện càng ít. Chỉ có 17% cơ sở y tế dự phòng xử lý bằng lò đốt thủ công, số còn lại thuê hoặc tự chôn lấp. Và ở các trạm y tế xã thì chất thải rắn được xử lý chủ yếu bằng phương pháp đốt thủ công hoặc chôn lấp.

Số cơ sở y tế áp dụng công nghệ đốt nhiều và tỉ lệ lò đốt nhỏ lại chiếm số đông, không có hệ thống xử lý khí thải lò đốt nên nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường, không khí xung quanh là rất cao. Việc kiểm soát lò đốt khí thải gặp khó khăn, muốn xác định nồng độ khí dioxin thì chi phí đắt và phải gửi mẫu ra nước ngoài. Trong khi đó, công nghệ không đốt sẽ hạn chế được lượng khói thải ra môi trường nhưng có chi phí đầu tư cao, không xử lý được triệt để lượng rác thải, sau xử lý vẫn phải mang đi xử lý như với rác thải thông thường. Trên địa bàn cả nước hiện mới chỉ có 9 cơ sở y tế áp dụng công nghệ này như Bệnh viện Phổi Trung ương, Nhiệt đới Trung ương, Bệnh viện 198, Bệnh viện 199 Bộ Công an…

Đối với nước thải y tế thì có khoảng 120.000m3 trên ngày/đêm-chưa tính nước thải của các cơ sở y tế dự phòng, đào tạo y dược, sản xuất thuốc và cơ sở y tế bộ ngành. Dự kiến năm 2015, nguồn nước thải này sẽ tăng lên khoảng 300.000m3/ngày đêm. Đây là điều đáng báo động cho tình trạng môi trường nếu không có hệ thống xử lý tốt. Thực tế thì hiện nay hầu hết ở các trung tâm thuộc hệ y tế dự phòng đều chưa có hệ thống xử lý nước thải mà chủ yếu xử lý sơ bộ bằng hóa chất, bể phốt, bể tự hoại. Ở trạm y tế xã thì hầu hết đều chưa có hệ thống xử lý nước thải bệnh viện.

Để hướng tới việc xử lý chất thải y tế an toàn cho cộng đồng, thời gian tới Bộ Y tế sẽ khuyến khích áp dụng công nghệ thân thiện với môi trường, ưu tiên áp dụng mô hình xử lý tập trung hoặc theo cụm để tiết kiệm chi phí và hiệu quả cao. Cụ thể, với các cơ sở điều trị, dự phòng gần khu dân cư, đô thị, diện tích mặt bằng hẹp thì áp dụng công nghệ xử lý bậc 1 phân tán/tập trung, kết hợp với xử lý tập trung bằng phương pháp sinh học nhân tạo; với các cơ sở y tế xa khu dân cư, diện tích mặt bằng rộng thì áp dụng phương pháp xử lý phân tán/tập trung kết hợp với xử lý tập trung bằng phương pháp sinh học trong điều kiện tự nhiên; với trạm y tế xã, cơ sở điều trị cơ sở dự phòng tuyến huyện miền núi thì áp dụng công nghệ xử lý bậc 1 kết hợp khử trùng-TS. Nga cho biết (An ninh thủ đô (trang 8) 16/6).

Phó Thủ tướng yêu cầu làm rõ nguyên nhân các vụ tai biến sản khoa

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân vừa có ý kiến chỉ đạo về công tác phòng ngừa tai biến sản khoa gây tử vong mẹ và tử vong trẻ sơ sinh, sau khi Bộ Y tế đã có báo cáo cụ thể về một số trường hợp tai biến sản khoa xảy ra trong thời gian gần đây.

Phó Thủ tướng giao Bộ Y tế tiếp tục chỉ đạo các cơ sở y tế vừa có các tai biến sản khoa tổ chức kiểm thảo tử vong theo đúng quy chế của bệnh viện, làm rõ nguyên nhân gây tai biến, xác định trách nhiệm chuyên môn và tinh thần trách nhiệm của cá nhân và tập thể liên quan để nghiêm túc rút kinh nghiệm hoặc xử lý  nghiêm các sai phạm nếu có.

Bộ Y tế lưu ý việc trao đổi, giải thích kịp thời, đầy đủ với thân nhân, gia đình các sản phụ gặp tai biến; cung cấp đầy đủ thông tin trên công luận.

Đồng thời, Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Y tế rà soát, chấn chỉnh hệ thống tổ chức mạng lưới chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, đặc biệt chú trọng công tác chỉ đạo tuyến và chuyển giao kỹ thuật thực hành cấp cứu sản khoa, cấp cứu trẻ sơ sinh.

Bên cạnh đó, tăng cường các biện pháp chuyên môn để phát hiện sớm các nguy cơ gây tai biến sản khoa, xử lý đúng kỹ thuật để cứu sống bà mẹ và trẻ sơ sinh.

Phó Thủ tướng cũng giao Bộ Y tế đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao nhận thức của người dân, giúp thay đổi hành vi về chăm sóc thai nghén, khám thai theo định kỳ và chỉ đến sinh con ở các cơ sở y tế đủ điều kiện hành nghề y theo quy định.

Trước đó, theo báo cáo của Bộ Y tế từ ngày 20/4 đến ngày 17/5/2012 có 9 trường hợp tai biến sản khoa gây tử vong mẹ và tử vong trẻ sơ sinh (trong đó có 6 trường hợp chết cả mẹ và con, 3 trường hợp chỉ cứu được con) xảy ra tại các cơ sở y tế cả nhà nước và tư nhân trên địa bàn 6 tỉnh, thành phố gồm: Bắc Ninh (1 ca), Hưng Yên (2 ca), Quảng Nam (1 ca), Quảng Ngãi (2 ca), Đồng Nai (2 ca) và thành phố Hồ Chí Minh (1 ca).

Được biết, Bộ Y tế đã chỉ đạo, trong thời gian tới, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Từ Dũ sẽ tiếp tục cử các đoàn công tác đến các tỉnh có xảy ra các tai biến sản khoa gây tử vong mẹ và trẻ sơ sinh để làm việc và rút kinh nghiệm với Sở Y tế và các đơn vị có liên quan ở địa phương.

Bộ Y tế cũng đã giao Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Bệnh viện Từ Dũ ngay trong tháng 6 này, tổ chức các lớp tập huấn đào tạo lại cho cán bộ y tế tuyến dưới. Trước mắt ưu tiên tập huấn cho bệnh viện tuyến tỉnh với các nội dung về theo dõi cuộc đẻ và cấp cứu, hồi sức sản khoa.

Dự kiến trong đợt đầu, mỗi tỉnh sẽ có 2 bác sỹ ở khoa sản bệnh viện đa khoa tỉnh được tập huấn.

Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 2008, tỷ số tử vong mẹ ở khu vực Đông Nam Á là 160/100.000 trẻ đẻ sống, của Việt Nam chỉ còn 54/100.000 trẻ đẻ sống (thấp hơn so với số liệu của Tổng điều tra dân số 2009 công bố là 69/100.000 trẻ đẻ sống).

Cùng với giảm tử vong mẹ, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi của Việt Nam đã giảm gần 2/3 từ 44,4‰ xuống còn 15,5‰ năm 2011. Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi giảm hơn một nửa từ 58‰ năm 1990 xuống còn 23,3‰ năm 2011 (Nông thôn ngày nay (trang 2) 16/6).

Gia tăng trẻ em nhiễm HIV dưới 13 tuổi

Ngày 15/6, ông Nguyễn Trọng An – Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ và chăm sóc trẻ em (Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội) cho biết, tỷ lệ trẻ em nhiễm HIV dưới 13 tuổi đang ngày càng gia tăng.

Mỗi năm Việt Nam phát hiện hơn 1.000 trẻ nhiễm HIV. Ước tính đến năm 2012 cả nước có khoảng 5.700 trẻ em dưới 13 tuổi nhiễm HIV.

Tuy nhiên, trung bình, mỗi năm Việt Nam có gần 5.000 phụ nữ mang thai nhiễm HIV nên số trẻ nhiễm HIV trên thực tế có thể cao hơn con số thống kê (Nông thôn ngày nay (trang 2) 16/6).

Tiếp tục tìm nguyên nhân gây hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân

Ðoàn công tác gồm hơn 20 chuyên gia đầu ngành thuộc các lĩnh vực: hồi sức cấp cứu, chống độc, tiêu hóa, da liễu, huyết học, dị ứng miễn dịch… của Bệnh viện Bạch Mai vừa về Ba Tơ (Quảng Ngãi) khám lại cho các trường hợp bị hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân. Các chuyên gia vừa điều trị, vừa tiếp tục nghiên cứu, để đánh giá lại công tác điều trị thời gian qua nhằm nâng cao hiệu quả điều trị, giảm tử vong cho người bệnh.

Ðoàn tiến hành khám lại cho gần 250 người đã, đang mắc hội chứng nói trên và trực tiếp đến một số gia đình có người bệnh để khảo sát những vấn đề liên quan. Theo các bác sĩ, ngoài tiền sử mắc bệnh được chẩn đoán tại địa phương là hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân thì nhiều người còn mắc một số bệnh khác như cao huyết áp, suy tim, thiếu máu nhược sắc. Ðáng chú ý, phần lớn người bệnh đều có tình trạng thiếu máu, cơ thể nghèo chất dinh dưỡng, da xanh xao. Một số người bệnh dù đã chữa khỏi bệnh nhưng sắc tố trên da không biến đổi. Rất nhiều người khi khám lại đều cho biết họ có biểu hiện chán ăn, ăn rất ít và thể lực rất yếu. PGS, TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai nhận định: Khi khám, chúng tôi phát hiện một số người dân còn có biểu hiện thiếu máu, suy dinh dưỡng, một số người rụng tóc, nếu ăn uống tốt thì bệnh của họ hầu như không tái phát. Do vậy, trong khi chưa tìm ra nguyên nhân gây bệnh, trước mắt cần bổ sung ngay chất dinh dưỡng, thuốc bổ máu và các loại vi-ta-min, khoáng chất nhằm tăng sức đề kháng cho người dân. Trong khi đó, sau khi tìm thấy trong loại gạo của người dân ở xã Ba Ðiền thường ăn là gạo ủ và xét nghiệm trong đó có một số loại nấm mốc, chính quyền đã cấp cho người dân ở đây gạo mới, nhưng theo Chủ tịch UBND xã Phạm Văn Bút thì hiện tại, tại làng Rêu (nơi chiếm phần lớn số người mắc hội chứng nêu trên) vẫn còn khoảng 40% số người dân ăn gạo cũ.

Ðây là lần thứ ba TS Phạm Duệ, Giám đốc Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai, người có hàng chục năm "chiến đấu" với các ca nhiễm độc khó, trở lại Ba Tơ từ khi hội chứng viêm dày sừng bàn tay, bàn chân xuất hiện. Các nghiên cứu của ông cho thấy, từ khi sử dụng gạo mới được cấp, sức khỏe của nhiều người dân vốn mắc bệnh lạ đã có những chuyển biến tích cực.  Ðây có thể là gợi mở để có thể chữa khỏi và phòng ngừa tái phát. Như gia đình anh Phạm Văn Trói có sáu người thì cả sáu người mắc hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân. Vợ anh Trói là chị Phạm Thị Rên đã hai lần nhập viện điều trị, nhưng về nhà, chị và gia đình vẫn tiếp tục ăn gạo cũ. Chẳng bao lâu sau, bệnh của chị Rên tái phát, xét nghiệm men gan tăng và chị đã tử vong cách đây hai tuần. Ðược cấp và sử dụng gạo mới, các thành viên trong gia đình anh mỗi bữa đều ăn được nhiều hơn và thấy người cũng khỏe mạnh hơn. Tương tự, gia đình anh Phạm Văn Gương và chị Phạm Thị Lấy, đã từ gần hai tháng nay, ăn gạo mới và anh đã khỏe hẳn lên, không còn chán ăn. Trong nhà của hai gia đình đều còn khá nhiều gạo cũ, họ cho biết số gạo này sẽ dùng để chăn nuôi vịt, nuôi lợn. Trên cơ sở đó, TS Phạm Duệ phân tích: Những người được coi là tái phát bệnh có thể ở hai hình thức. Người đã điều trị ở viện đỡ, men gan giảm nên được về nhà. Thế nhưng khi về nhà họ lại xuất hiện triệu chứng chán ăn, mệt mỏi. Hoặc có người đang điều trị bỏ dở và sau đó quay lại bệnh viện. Vậy thì câu hỏi là tại sao những người đã điều trị khỏi, khi về nhà, trở lại sinh hoạt trong điều kiện cũ, bệnh tái phát trở lại. Kết quả xét nghiệm các mẫu đất, nước, không khí ngoại cảnh không có gì bất thường. Biểu hiện sức khỏe của những người đang ăn gạo mới, trong bữa cơm có thịt, chất lượng bữa ăn giàu dinh dưỡng hơn thì sức khỏe có cải thiện nhiều. Do đó, có thể đưa ra giả thiết trên một cơ thể người có bệnh, việc sử dụng gạo cũ sẽ làm cho bệnh nặng hơn. Bởi trong xét nghiệm gạo mà người dân ở đây đã ăn lâu, có 10% số mẫu tìm thấy một số loại nấm như Arspegilus có sinh ra độc tố Aflatoxin. Ðộc tố này gây chết tế bào gan dẫn đến xơ hóa gan, cộng với việc gan nhiễm mỡ, tế bào gan hoại tử dẫn đến suy chức năng gan. Ở những bệnh nhân này, dù họ được lọc máu nhiều lần nhưng tổn thương rất nặng nên đã tử vong. Tuy nhiên, do tỷ lệ gạo mà người dân ăn chỉ có khoảng 10% là phát hiện có nấm mốc, nên đây có thể coi như chỉ là yếu tố phụ, làm bệnh nặng thêm trên cơ thể có bệnh gan đã suy.

TS Nguyễn Quốc Anh, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai cho biết, sau đợt khảo sát này, đoàn công tác sẽ tổng hợp tình hình, báo cáo Bộ Y tế xem xét lại phương pháp điều trị đang được áp dụng nhằm ngăn chặn, hạ thấp tỷ lệ tử vong cho người bệnh. Thời gian tới, Bệnh viện sẽ cử một tổ với ba cán bộ, thuộc ba chuyên ngành: Hồi sức, nhi và tiêu hóa về hỗ trợ ngành y tế Quảng Ngãi

Từ tháng 10-2010 đến nay, Bộ Y tế đã cử 16 đoàn công tác với hơn 200 lượt cán bộ, chuyên gia đầu ngành về Ba Tơ khảo sát, điều tra, lấy mẫu (đất, nước, thực phẩm, máu, tóc, da…) để xét nghiệm; tổ chức các chiến dịch vệ sinh, phun hóa chất xử lý môi trường, diệt côn trùng… Ngoài ra, các bộ: Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã cử các đoàn khảo sát về nguồn nước, mẫu đất. Tuy nhiên đến nay, nguyên nhân gây hội chứng vẫn chưa sáng tỏ, thì việc đoàn các chuyên gia đầu ngành của Bệnh viện Bạch Mai về khảo sát, đánh giá để tìm ra phương pháp điều trị hiệu quả để sớm khỏi bệnh và giảm số người chết từ căn bệnh không chỉ "lạ" ở Việt Nam mà còn "lạ" với cả thế giới là có ý nghĩa hết sức quan trọng (Nhân dân (trang 5) 16/6).

Xã hội hóa y tế: Góp phần gây quá tải bệnh viện

Lãnh đạo Cục Quản lý Khám – Chữa bệnh (Bộ Y tế) đánh giá cao lợi ích của xã hội hóa công tác khám chữa bệnh nhưng cũng cho rằng, việc này góp phần gây quá tải bệnh viện.

Theo PGS.TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục khám chữa bệnh, xã hội hóa công tác khám chữa bệnh khiến tăng tỷ lệ nhập viện không phù hợp chẩn đoán bệnh và không phù hợp phân tuyến chuyên môn kỹ thuật.

Cơ chế phân bổ kinh phí khám chữa bệnh theo giường bệnh như hiện nay dẫn đến việc các bệnh viện cố gắng tăng hoặc bảo vệ số giường bệnh hiện có đã chỉ định nhập viện đối với một số loại bệnh mà đúng ra có thể điều trị ngoại trú, dẫn đến tình trạng quá tải bệnh viện.

Hiện tượng nhập viện đối với các bệnh thông thường (như đẻ thường, cắt u nang buồng trứng, chăm sóc sản phụ tại nhà) tại các bệnh viện tuyến cuối vẫn còn cao.

Ngoài ra, cơ chế tự chủ tài chính dẫn đến sự chênh lệch ngày càng lớn về thu nhập của cán bộ ở các bệnh viện tuyến trên và ở các chuyên khoa có mức tăng thu cao.

Điều này dẫn đến xu hướng dịch chuyển cán bộ từ các bệnh viện ở nông thôn ra thành thị, từ tuyến dưới lên tuyến trên.

Hoặc dẫn đến xu hướng chọn lựa những chuyên khoa hấp dẫn về thu nhập, khiến xảy ra tình trạng thiếu cán bộ thuộc những chuyên khoa có thu nhập thấp như lao, phong, tâm thần, gây mất cân bằng trong cung cấp dịch vụ y tế.

Một bất cập còn tồn tại khi thực hiện xã hội hóa y tế và tự chủ tài chính tại bệnh viện công là tình trạng lạm dụng quyền tự chủ của lãnh đạo bệnh viện gây tiêu cực, mất dân chủ trong bệnh viện, ông Khuê nói.

Hiện nay, chi phí khám chữa bệnh chiếm 85% trong tổng chi cho y tế. Việc triển khai chính sách xã hội hóa công tác khám, chữa bệnh và tự chủ tài chính trong các bệnh viện diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau.

Theo thống kê của ngành y tế, lĩnh vực được đầu tư nhiều nhất là máy móc chẩn đoán hình ảnh để phục vụ khu vực khám chữa bệnh theo yêu cầu.

Tính riêng các bệnh viện trung ương, đã có 50 thiết bị y tế có giá trị được lắp đặt, đưa vào sử dụng tại 16 cơ sở như hai máy PET-CT, 11 CT- Scaner, ba hệ thống máy cộng hưởng từ, một hệ thống máy gia tốc tuyến tính và nhiều thiết bị kỹ thuật cao khác như thiết bị phá sỏi ngoài cơ thể, máy phaco…

Kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động của các bệnh viện công lập chỉ chiếm 23,2% trong tổng số nhu cầu chi cho hoạt động. Với các bệnh viện trung ương, tỷ lệ này là 9,8%.

Nguồn thu xã hội hóa là nguồn quan trọng bổ sung vào nguồn thu của bệnh viện nhằm đảm bảo công tác chuyên môn.

Theo TS Khuê, dịch vụ khám, chữa bệnh tại các bệnh viện hiện nay là công bằng cho tất cả người bệnh từ thầy thuốc, trang thiết bị, thuốc vật tư, tiêu hao.

Người nghèo, trẻ em, các đối tượng chính sách đã được Nhà nước mua bảo hiểm y tế đảm bảo việc tiếp cận công bằng các dịch vụ khám chữa bệnh.

Phát triển các dịch vụ y tế theo yêu cầu đã bổ sung thêm nguồn lực tài chính cho việc cải thiện chất lượng khám, chữa bệnh; giúp cho bệnh viện có thêm kinh phí để hoạt động, nâng cấp cơ sở hạ tầng, mua sắm thêm trang thiết bị hiện đại, có thêm kinh phí phát triển kỹ thuật cao, đào tạo được những chuyên gia giỏi giúp chẩn đoán đúng, điều trị kịp thời, cứu sống được nhiều người bệnh mắc bệnh hiểm nghèo.

Thực tế, với mức giá thu dịch vụ của đối tượng có thẻ bảo hiểm y tế như hiện nay, người nghèo, người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế được hưởng lợi nhiều từ những nguồn thu dịch vụ này.

Bằng chứng là tại các bệnh viện người nghèo vẫn được hưởng y tế kỹ thuật cao với giá viện phí bằng với giá Nhà nước quy định tại Thông tư 14 và Thông tư 03 (Tiền phong (trang 6) 16/6).

Gửi thảo luận