Trang chủ » Tin tức » Y tế » Điểm báo ngày 13/5/2012

Điểm báo ngày 13/5/2012

“Bệnh lạ” ở Quảng Ngãi: Tiêu hủy chiếu
cũ, phu hóa chất vùng bệnh

Trưa cùng ngày, ông Lê Hàn Phong – chủ tịch UBND huyện Ba Tơ – đã có cuộc họp với chính quyền xã Ba Điền về việc chuẩn bị cấp phát 60 tấn gạo cho người dân trong vùng bệnh.
Ngày 13-5, toàn bộ người dân trong xã Ba Điền sẽ ăn gạo mới thay thế gạo ủ của đồng bào dùng thường ngày (Tuổi trẻ 13/5).
 
TP.HCM: thêm 2 ca tử vong do bệnh tay chân miệng
 
Theo Trung tâm Y tế dự phòng TP.HCM, trong hai tuần đầu của tháng 5-2012 đã có thêm hai trẻ tử vong vì bệnh tay chân miệng tại TP.
Ca tử vong mới nhất là bệnh nhi H.C.P. (nam, 2 tuổi) ngụ P.8, Q.10. Bé khởi bệnh ngày 7-5 với triệu chứng sốt 38,5 độ kèm ban đỏ ở tay, chân, đến khám và nhập viện tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 ngày 8-5. Sau 28 giờ nhập viện, bệnh nặng dần và đến 18g15 ngày 9-5 bé đã tử vong.
Trước đó, bệnh nhi T.T.P. (nam, 2 tuổi) ngụ xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh khởi bệnh ngày 29-4 với triệu chứng sốt và run tay chân.
Bé được nhập viện Nhi Đồng 1 ngày 1-5 với chẩn đoán tay chân miệng và đã tử vong cùng ngày.
Đáng lưu ý, khi Trung tâm Y tế dự phòng TP tiến hành điều tra xung quanh khu vực nhà của bệnh nhi tại xã An Phú Tây đã phát hiện thêm bốn trường hợp mắc tay chân miệng đang điều trị ngoại trú và một trường hợp đang điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới (Tuổi trẻ 13/5).
 
Phát động phong trào chống nhiễm khuẩn bệnh viện
 
Bộ Y tế và Tổ chức Y tế thế giới đã phát động phong trào "Bảo vệ sự sống: Vệ sinh tay trong cơ sở khám, chữa bệnh (KCB)". 
Theo Ths Phạm Đức Mục, Phó Cục trưởng Cục Quản lý KCB (Bộ Y tế), nhiễm khuẩn bệnh viện (BV) làm tăng tỷ lệ tử vong, tăng biến chứng, kéo dài ngày điều trị, tăng nhu cầu sử dụng kháng sinh, tăng nguy cơ kháng thuốc và tăng chi phí điều trị cho bệnh nhân. Tuy nhiên, vẫn còn 2,7% số BV chưa có khoa hay tổ kiểm soát nhiễm khuẩn. Đội ngũ lãnh đạo kiểm soát nhiễm khuẩn chưa được hoàn thiện ở cả tuyến trung ương và tuyến tỉnh. 
Ông Barbatundee, đại diện của Tổ chức Y tế thế giới cho rằng rửa tay chính là biện pháp hiệu quả và rẻ tiền nhất để phòng ngừa nhiễm khuẩn BV, ngăn chặn việc lây lan nhiều bệnh nhiễm khuẩn, đặc biệt là bệnh tay – chân – miệng và cúm. Hành động đơn giản này có thể giảm gánh nặng bệnh tật cho hàng triệu trẻ em và cứu nhiều sinh mạng hơn là sử dụng vắc xin hoặc các can thiệp về y tế (Hà Nội mới 13/5).
 
Sớm có biện pháp quản lý chặt thuốc cam
 
Chì là một chất độc nguy hiểm đối với trẻ em. Khi bị ngộ độc chì cấp tính sẽ gây suy nhược cơ bắp, suy thận, liệt chi, sau đó co giật từng cơn, thẬm chí dẫn đến tử vong. Thế nhưng thời gian gần đây, rất nhiều trẻ phải nhập viện vì nhiễm độc chì do sử dụng thuốc cam. Ðiều đó đòi hỏi cơ quan chuyên môn cần sớm có những biện pháp quản lý chặt chẽ loại thuốc được nhiều người sử dụng này.
Theo thống kê của Bệnh viện Bạch Mai, hơn bốn tháng qua có gần 130 trường hợp đến từ nhiều địa phương phải nhập viện vì nhiễm độc chì sau khi sử dụng thuốc cam. Ðến thời điểm này cũng đã có bốn cháu bé chết vì nhiễm độc chì từ thuốc cam. Các bác sĩ cho biết, nếu không được điều trị kịp thời, trẻ bị ngộ độc chì sẽ phải đối mặt với nguy cơ di chứng về trí tuệ và thể chất. Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai hằng ngày vẫn tiếp nhận nhiều trẻ đến xét nghiệm và điều trị sau khi sử dụng thuốc cam. Ðáng chú ý, có những gia đình mới chỉ bôi cho trẻ trong ba ngày, mỗi ngày hai lần loại thuốc cam rởm để chữa tưa lưỡi thì trẻ đã bị lên cơn co giật sau đó hôn mê và phải đưa đi cấp cứu. Khi mới nhập viện được chẩn đoán là hội chứng não cấp, nhưng sau khi tiến hành xét nghiệm thấy rằng, lượng chì trong máu cao nên chuyển người bệnh sang dạng ngộ độc chì, và có những cháu như thế đã không cứu được. Các bác sĩ cho biết, thời gian điều trị ngộ độc chì phải mất hàng năm trời, với khoản chi phí hàng chục triệu đồng. Ngay cả khi chất độc đã được đào thải hết thì vẫn có thể để lại di chứng không nhỏ.
Hiện có hai loại thuốc cam được dùng phổ biến là thuốc cam bổ tỳ, tăng cường tiêu hóa, chống còi xương và thuốc cam chữa tưa lưỡi, lở loét cho trẻ. Kết quả giám định hàng trăm mẫu thuốc đã thu hồi được cho thấy, hàm lượng chì chiếm từ 2 đến 80%. Loại thuốc chế từ khoáng chất độc hại này chưa bao giờ được Bộ Y tế cấp phép sản xuất và sử dụng, nhưng lâu nay vẫn được bày bán phổ biến trên thị trường, đe dọa nghiêm trọng sức khỏe cộng đồng. Mới đây, từ thông tin trẻ sử dụng thuốc cam của ông lang Nguyễn Văn Trân ở xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ (Hà Nội) bị nhiễm độc chì nặng, dẫn tới tình trạng sốt cao, co giật, Thanh tra Sở Y tế Hà Nội đã cho lấy hai mẫu thuốc cam tại đây để xét nghiệm. Kết quả cho thấy, cả hai mẫu đều có hàm lượng chì cao, đặc biệt nguy hiểm đối với sức khỏe người sử dụng. Cả hai loại thuốc cam này đều không có số đăng ký, tức là thuộc diện không được phép sản xuất và sử dụng. Lý giải nguyên nhân thuốc cam có chì, ông Trân khẳng định là do Hồng đơn và Thanh đại (hai nguyên liệu làm thuốc). Theo Vụ Y dược cổ truyền (Bộ Y tế) thì Hồng đơn chính là ô-xít chì, có thể tạo ra từ khoáng vật trong tự nhiên hoặc nung chì ở nhiệt độ khoảng 600 độ C. Không phải dược liệu nhiễm chì, mà người ta dùng những khoáng vật bản chất là chì để chế Hồng đơn. Người làm thuốc cam thì đổ cho dược liệu có chì, còn khi hỏi người bán dược liệu thì thừa nhận chỉ biết bán mà không biết trong dược liệu có gì. Ðáng chú ý, cả người làm thuốc và người buôn bán dược liệu đều có một điểm chung, đó là cả hai đã hành nghề hàng chục năm, nhưng không có bằng cấp chuyên môn và không có giấy phép. Ðiều này cho thấy tình trạng đáng báo động trong việc kiểm soát hoạt động khám, chữa bệnh tư nhân bằng y học cổ truyền.
Phải tới khi bệnh nhi thứ tư chết do nhiễm độc chì từ thuốc cam, Bộ Y tế mới họp với các đơn vị chức năng để bàn về giải pháp chấn chỉnh công tác quản lý hành nghề y học cổ truyền và ngăn chặn các ca ngộ độc mới do thuốc cam gây ra. Hàng loạt biện pháp được triển khai đã cho thấy những "khoảng trống" trong công tác quản lý tồn tại từ nhiều năm nay. Bộ đã nhiều lần có công văn nhắc nhở, chỉ thị cho các địa phương tăng cường công tác quản lý; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm. Ðồng thời, đề nghị chính quyền các cấp tăng cường công tác tuyên truyền để phát hiện, ngăn chặn, không dùng các thuốc ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Trước yêu cầu này, các lực lượng chuyên trách tại 63 tỉnh, thành phố mới bắt đầu tăng cường kiểm soát các cơ sở hành nghề khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền tư nhân, lấy mẫu nhiều chế phẩm để kiểm tra nồng độ chì. Tuy nhiên, có khó khăn trong việc xử lý các vi phạm, vì hiện nay Bộ Y tế vẫn chưa ban hành quy định về giới hạn chì trong dược liệu và thuốc từ dược liệu.
Theo kết quả phân tích của Viện Hóa học (Viện Khoa học công nghệ Việt Nam) trong 500 mẫu bệnh phẩm mà các bệnh viện gửi đến xét nghiệm có tới hơn 300 mẫu có hàm lượng chì cao. Ðặc biệt có những cháu có hàm lượng chì hơn 200 microgram/1mml máu. Trong khi đó, hàm lượng chì trên 5mcg/100ml máu ở trẻ em là đã gây ngộ độc cho não. Chính vì vậy, để hạn chế nguy cơ ngộ độc chì cho trẻ, bên cạnh việc các cơ quan chức năng sớm có những biện pháp quản lý chặt chẽ loại thuốc đông y hay được sử dụng thì chính các bậc phụ huynh tuyệt đối không nên mua, sử dụng những loại thuốc bán trôi nổi trên thị trường, không có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Khi trẻ bị bệnh, tốt nhất là nên đến những cơ sở y tế uy tín, có sự chỉ định rõ ràng của thầy thuốc.
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ngộ độc chì
Bộ Y tế vừa ban hành hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ngộ độc chì. Theo đó,  nồng độ chì máu toàn phần bình thường là dưới 10 àg /dL, nồng độ lý tưởng là 0 àg /dL. Thông qua xét nghiệm máu, đối với trẻ em, nồng độ chì vượt mức 79 àg/dL trở lên và có những biểu hiện về bệnh lý não, thay đổi hành vi, co giật, hôn mê, phù gai chi, nôn kéo dài và có biểu hiện thiếu máu, thiếu sắt được xác định là mức độ nặng; đối với người lớn là vượt mức 100 àg/dL, xuất hiện các dấu hiệu của bệnh lú não, các cơn đau quặn bụng, nôn, thiếu máu, thậm chí mắc bệnh ly thận. Với từng mức độ, nặng, trung bình, nhẹ mà có phương pháp theo dõi, điều trị và sử dụng thuốc giải độc chì phù hợp. Bộ Y tế cũng khuyến cáo người dân chỉ khám bệnh ở những cơ sở có đăng ký và dùng các thuốc lưu hành hợp pháp. Loại bỏ các sản phẩm có nguy cơ gây nhiễm độc chì trong cuộc sống như sơn, đồ chơi có chì, giữ vệ sinh môi trường… (Nhân dân 13/5).
 
80% bệnh nhân tắc mạch ối tử vong:
thai phụ hoang mang

 
Liên tiếp trong nửa tháng qua, 3 sản phụ là ở Quảng Ngãi,Hưng Yên và Bắc Ninh đã tử vong trong quá trình sinh nở gây nên nỗi lo ngại cho rất nhiều phụ nữ đang mang thai. 
Ngoài sản phụ ở Quảng Ngãi tử vong do có tiền sử bệnh tim thì 2 sản phụ còn lại đều có nguyên nhân do tắc mạch ối. Đây là một hội chứng chết người trong sản phụ khoa mà các bác sĩ sợ nhất vì không thể dự báo, không thể dự phòng  và trong hầu hết các trường hợp đều không thể điều trị được. Tắc mạch ối thực sự là một thảm họa không chỉ đối với nhân viên y tế mà còn đối với cả gia đình sản phụ.
80% trường hợp tử vong
Sau cái chết của sản phụ Hạnh ở Bệnh viện Đa khoa Hưng Yên rạng sáng 20-4, các chuyên gia y tế đã vào cuộc và bước đầu xác định nguyên nhân dẫn đến tử vong của sản phụ Hạnh là do tắc mạch ối với các triệu chứng như trụy mạch, hôn mê và rối loạn đông máu diễn ra quá nhanh và đột ngột. 
Hội chứng tắc mạch ối thường rất hiếm gặp trong sản khoa. Tuy nhiên có đến 80% trường hợp mắc phải đều dẫn đến tử vong. Bình thường, nước ối hoàn toàn nằm trong buồng ối, không đi vào tuần hoàn của thai phụ. Hội chứng xảy ra khi nước ối, tế bào thai nhi, bọt khí, chất gây, tóc hoặc các mảnh tổ chức thai khác lọt vào hệ tuần hoàn của mẹ, gây ra suy hô hấp và tuần hoàn cấp tính. Nhìn chung, tắc mạch ối thường xảy ra trong quá trình chuyển dạ, mổ đẻ chủ động, nhưng cũng có thể xảy ra khi nạo thai, truyền dịch ối vào buồng tử cung, hay chấn thương ổ bụng, hoặc thậm chí sau đẻ. Yếu tố thuận lợi gây tắc mạch ối là cơn co tử cung mạnh (khiến nước ối thấm vào khoang giữa tử cung và rau – màng ối) và việc các mạch máu ở thành tử cung mở ra. Khi cơ tử cung giãn, các mạch máu mở rộng có tác dụng như những ống hút, hút nước ối vào mạch. Khi cơ tử cung co lại, máu và nước ối được đẩy theo đường tĩnh mạch của tử cung vào tĩnh mạch chậu rồi về tim. Tim đẩy máu có lẫn nước ối lên phổi, làm tắc các động mạch ở phổi; nên gọi là tắc mạch (phổi) do nước ối.
Khi bị tắc mạch ối, sản phụ sẽ đột ngột có các triệu chứng như đau ngực, khó thở kịch liệt, có cảm giác cái chết đang đến gần và nhanh, băng huyết dữ dội, choáng, trụy mạch nhanh chóng và tử vong. Do tai biến xảy ra đột ngột và tiến triển nhanh nên hầu hết bệnh nhân đều tử vong. Nếu thai chưa xổ thì hầu hết thai nhi không được cứu kịp.
Các sản phụ tuổi cao có nguy cơ bị tắc mạch ối nhiều hơn. Con rạ có nguy cơ cao hơn con so. Người ta thấy 75% số trường hợp tắc mạch ối xảy ra ở người đẻ con rạ. 67% số trường hợp tắc mạch ối là mang thai trai, 41% số người bệnh có tiền sử dị ứng. Ngoài ra, ổ lấy thai, đẻ đường dưới có can thiệp thủ thuật foóc-xép hay giác kéo có nguy cơ cao hơn đẻ thường. Đa ối, đa thai (tử cung quá to), thai chết lưu, vỡ ối, rách cổ tử cung, vỡ tử cung, rau tiền đạo, rau bong non, sản giật, gây chuyển dạ cũng là yếu tố nguy cơ gây tắc mạch ối.
Ở Hoa Kỳ, ước tính 1 trường hợp tắc mạch ối cho 8.000 – 30.000 thai nghén. Các nước khác có tỷ lệ mắc tương tự. Một nghiên cứu ở Canada từ năm 1991 – 2002 trên 3 triệu trường hợp đẻ trong bệnh viện cho thấy, tỷ lệ tắc mạch ối là 14,8/100.000 trường hợp đẻ đa thai, 6,0/100.000 đẻ một thai. Nghiên cứu trong khoảng thời gian 2000-2002 ở Anh cho thấy tỷ lệ gặp tắc mạch ối là 3,7/1 triệu trường hợp thai nghén và tử vong mẹ do tắc mạch ối lên đến gần 80%. 
Bệnh không thể dự báo trước
Tắc mạch ối xảy ra rất đột ngột, và không thể dự báo trước. Vì vậy trong hầu hết các trường hợp, gia đình sản phụ thường khó chấp nhận lời giải thích của nhân viên y tế vì mới trước đó, họ được thông báo là tình hình chuyển dạ của sản phụ chưa có gì nguy hiểm. Trước đây, một sản phụ tử vong tại Bệnh viện SaPa, Lào Cai, bác sĩ trực đã bị cơ quan chức năng khởi tố. Sau khi các nhà hoa học cùng cơ quan chức năng vào cuộc làm rõ nguyên nhân sản phụ tử vong do biến chứng tắc mạch ối, một biến chứng bất khả kháng, bác sĩ Hoàng Đình Trung ở Bệnh việnSa Pa mới được minh oan.
Cơ chế bệnh của tắc mạch ối vẫn chưa được hiểu thấu đáo. Việc chẩn đoán tắc mạch ối thường rất khó, đồng thời cũng không có biện pháp điều trị đặc hiệu. Bệnh nhân được dùng thuốc, truyền dịch, truyền các chế phẩm của máu, được đặt ống nội khí quản giúp thở để duy trì chức năng tim mạch và hô hấp. Tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng điều trị thành công. Nhiều bác sĩ trong suốt thời gian hành nghề chưa từng chứng kiến tai biến này. Ngay tại BV Phụ sản TƯ, bệnh viện tuyến đầu về sản khoa cả nước, cũng chỉ cứu được một số bệnh nhân bị tắc mạch ối, còn nhiều bệnh nhân không thể cứu được dù phương tiện, nhân lực rất đầy đủ.
Trong y tế, ngành sản cũng là ngành có bệnh nhân chết nhiều nhất. Ngay tại các nước phát triển như Mỹ, Anh tỷ lệ sản phụ chết là 4/100.000 người. Ở Việt Nam, đầu thập niên 80, số phụ nữ qua đời trong lúc vượt cạn lên tới 250/100.000 ca. Còn hiện nay, con số tử vong vẫn còn ở mức 75/100.000 ca.
Với phụ nữ, ngay từ lúc mang thai đã có những nguy cơ tai biến, trong đó có những tai biến xảy ra rất nhanh, đôi khi bác sĩ không trở tay kịp mặc dù có đầy đủ trang thiết bị kỹ thuật cao. Ngoài tắc mạch ối, theo TS Nguyễn Nhật Ánh, Phó Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, những tai biến sản khoa thường gặp khác là băng huyết, tiền sản giật (ngộ độc thai nghén), vỡ tử cung, nhiễm khuẩn hậu sản, uốn ván rốn và nhau tiền đạo. 
Trước những thông tin về cái chết của các sản phụ, thời gian qua, tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội và Bệnh viện Phụ sản Trung ương, vốn đã quá tải càng thêm trầm trọng hơn nữa do sản phụ các địa phương ùn ùn đổ về tuyến trung ương. Tuy nhiên, theo các bác sĩ với một thai phụ sức khỏe tốt, được quản lý thai sản tốt, mẹ và thai nghi không kèm theo bệnh lý  thì không cần thiết phải lên tuyến trên. Bởi những tai biến trong sản khoa, trừ một số trường hợp bất khả kháng, như tắc mạch ối rất hiếm gặp thì nhiều tai biến khi sinh có thể phòng ngừa hoặc khắc phục được bằng cách quản lý thai phụ tốt, tiên lượng các nguy cơ (nếu sản phụ có bệnh lý kèm theo thì chuyển viện tới nơi có đủ điều kiện, trang thiết bị). Vì thế các bà bầu không nên quá hoang mang, lo lắng về quá trình sinh nở (An ninh Thủ đô 13/5).

Gửi thảo luận